Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020

Huyện Đình Lập phát huy nội lực để phát triển toàn diện

Huyện Đình Lập Phát huy nội lực để phát triển toàn diện

Đình Lập là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Đông Nam tỉnh Lạng Sơn, có hai trục quốc lộ 4B và 31 chạy qua trung tâm huyện; phía Tây Bắc giáp huyện Lộc Bình, phía Đông Bắc giáp Trung Quốc với đường biên giới dài 51,2 km, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh và phía Tây Nam giáp tỉnh Bắc Giang. Đình Lập có tiểu vùng khí hậu thích hợp cho phát triển các loại cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao như: thông, chè, hoa hồi, đinh, lim,... và nhiều cây dược liệu quý như: mộc nhĩ, nấm hương, sở,... Diện tích đồng cỏ khá lớn, mật độ cỏ che phủ đạt 70%, rất phù hợp cho phát triển chăn nuôi đại gia súc. Với tài nguyên đất, rừng và khí hậu ưu đãi, ngành lâm - nông nghiệp là thế mạnh trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đình Lập.

- Diện tích: 1.187 km2

- Dân số: 2,8 vạn người, gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Sán Chỉ

- Đơn vị hành chính: 10 xã, 2 thị trấn

- Huyện lỵ: thị trấn Đình Lập

 

Bức tranh kinh tế - xã hội tổng quan

Là một trong những huyện khó khăn nhất của tỉnh Lạng Sơn, nhưng nhờ thực hiện tốt đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước cùng sự nỗ lực vươn lên của chính quyền và nhân dân trên địa bàn, trong những năm qua, kinh tế - xã hội huyện Đình Lập có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả khả quan, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm. Trong đó:

Sản xuất lâm - nông nghiệp được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. Mặc dù, diện tích đất nông nghiệp chiếm 5,2% diện tích đất tự nhiên, thời tiết khí hậu không thuận lợi cho việc luân canh tăng vụ nhưng nhờ áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công tác khuyến nông, khuyến lâm, trợ giá, trợ cước vận chuyển phân bón, đưa các giống lúa, ngô mới vào sản xuất và tăng vòng quay sử dụng đất, nên sản lượng lương thực (có hạt) năm 2003 đạt 8.918,92 tấn, tăng 21,38% so với năm 2002, lương thực bình quân đầu người năm 2003 đạt 303 kg, tăng 14% so với năm 2002. Những mặt hàng trước đây phải nhập từ địa phương khác như: dưa hấu, khoai tây đã đạt được sản lượng hàng trăm tấn sản phẩm hàng hóa mỗi năm.

Trong lĩnh vực trồng trọt, vài năm gần đây, mô hình kinh tế vườn đồi, vườn rừng bắt đầu phát triển trên diện rộng, góp phần tăng nhanh diện tích trồng cây công nghiệp. Bước đầu, huyện đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung như: vùng cây chè ở các xã Lâm Ca, Thái Bình, thị trấn nông trường; cây hồi ở xã Bắc Xa, Kiên Mộc, Bính Xá, Đình Lập. Trong đó, cây thông được coi là loại cây lâm nghiệp mũi nhọn trong khai thác tiềm năng đồi rừng và được trồng ở khắp các xã trong huyện. Từ năm 2001 đến năm 2003, diện tích rừng thông trồng mới trên địa bàn là 4.481,25 ha, nâng tổng diện tích rừng thông trên địa bàn toàn huyện lên 16,48/18 nghìn ha so với chỉ tiêu tỉnh giao. Riêng lâm trường quốc doanh đã khai thác gần 5.700 m3 gỗ tròn, vượt 61,8% kế hoạch tỉnh giao. Sản lượng nhựa thông khai thác đạt 579 tấn, nộp ngân sách 265 triệu đồng, vượt trên 20% kế hoạch. Xác định cây chè giống mới là loại cây phù hợp với điều kiện canh tác ở địa phương và có giá trị kinh tế cao, các cấp, ngành chức năng huyện Đình Lập đang tích cực chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện dự án trồng chè giống mới. Năm 2003, diện tích chè giống mới đạt gần 150 ha, vượt 55% kế hoạch đề ra. Trong thực tế, tuy mới đưa vào trồng chưa lâu, nhưng cây chè giống mới đã góp phần đẩy lùi nghèo đói và làm giàu cho không ít hộ gia đình. Vì vậy, việc phát triển vùng nguyên liệu chè giống mới được rất nhiều hộ gia đình quan tâm và tích cực tham gia.

Về chăn nuôi, tận dụng lợi thế đồng cỏ khá lớn (7.000 ha), trong những năm qua, huyện đã tập trung đẩy mạnh chăn nuôi đại gia súc. Đến năm 2003, tổng đàn trâu là 9.735 con, đàn bò là 5.331 con, đàn lợn hơn 12 nghìn con, đàn gia cầm có khoảng 89.193 con. Trong những năm tới, huyện sẽ tăng cường đầu tư vào ngành chăn nuôi nhằm đạt được mục tiêu: đàn trâu tăng 2,5% - 3%/năm, đàn bò tăng 4% - 4,5%/năm. Chủ trương này sẽ góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao.

Rừng hồi thôn Bảo Pục - xã Kiên Mộc

Ảnh: Tư liệu

Với thế mạnh đất đồi rừng, đặc biệt nhờ việc thực hiện các dự án PAM, 327 (5 triệu ha), 661, dự án định canh, định cư, công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng được đẩy mạnh. Diện tích đất trống, đồi trọc giảm, độ che phủ rừng đạt 32,3%. Thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, từ năm 1998 đến năm 2003, huyện đã tiến hành giao 20.562 ha đất lâm nghiệp. Tác dụng thiết thực của chính sách này là người dân đã thực sự coi rừng là tài sản của mình, nâng cao tinh thần chăm sóc và bảo vệ rừng. Đến năm 2003, 12 xã, thị trấn của huyện Đình Lập đều phổ biến hương ước bảo vệ rừng đến từng thôn bản, nâng cao ý thức quản lý và bảo vệ rừng đến từng người dân trên địa bàn huyện.

Công nghiệp, thương mại - dịch vụ đang tập trung khai thác trên các lĩnh vực mà địa phương có nhiều lợi thế như: sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm sản,... tạo nguồn thu ngân sách hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Năm 2003, Xí nghiệp nông công nghiệp chè Thái Bình chế biến được 239,7 tấn chè khô (trong đó có 8,1 tấn chè giống mới), Lâm trường quốc doanh Khai thác và Chế biến gỗ Thành Khí đạt 1.051 m3, khai thác nhựa thông đạt 687 tấn/năm. Các hoạt động thương mại - dịch vụ, tuy đã phát triển, nhưng tốc độ còn chậm.

Về xây dựng cơ bản, với các nguồn vốn đầu tư từ các chương trình 135, dự án ADB,... huyện tập trung sửa chữa, cải tạo các công trình hạ tầng cơ sở nông thôn và xây mới một số trường học, bệnh xá, trụ sở làm việc; nâng cấp các tuyến đường giao thông liên xã, bê tông hóa được 11.414 m đường giao thông nông thôn. Bên cạnh đó, các xã đặc biệt khó khăn được huyện đầu tư nâng cấp, cải tạo, làm đường mới, các hồ đập, mương máng thuỷ lợi được kiên cố hóa, nâng tổng diện tích chủ động nước tưới lên 651 ha, đạt 48,50%. Đến đầu năm 2004, toàn huyện đã có 9/12 xã có đường ôtô đi lại được bốn mùa, tạo điều kiện giao lưu kinh tế giữa các vùng.

Với định hướng phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, trong thời gian qua, đời sống của nhân các dân tộc trong huyện dần được cải thiện, chất lượng cuộc sống từng bước được nâng lên. Tính đến đầu năm 2004, 95% xã, thị trấn có điểm bưu điện - văn hóa xã và máy đàm thoại, điện lưới quốc gia về đến trung tâm xã. Toàn huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và đang triển khai phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Hiện nay, toàn huyện có một trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia (Trường Tiểu học thị trấn Đình Lập). 80% hộ dân được dùng nước sạch, 100% xã, thị trấn có trạm y tế và 100% thôn, bản có cán bộ y tế cộng đồng đã qua đào tạo. Công tác xóa đói, giảm nghèo có nhiều cố gắng: số hộ nghèo, rất nghèo năm 2003 đã giảm xuống còn 19,37%. Đời sống văn hóa - xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hưởng ứng cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, năm 2003, toàn huyện có 1.494 hộ gia đình văn hóa, 21 thôn, khu phố văn hóa cấp huyện và 46 cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa.

Công tác xây dựng, củng cố hệ thống chính trị được chú trọng. Trong đó, công tác xây dựng và phát triển tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Hàng năm, số cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh đạt 60 - 70%. Tính đến năm 2003, huyện Đình Lập đã có 1.300 đảng viên với 37 chi, đảng bộ trực thuộc. Hệ thống chính quyền và các tổ chức, đoàn thể quần chúng không ngừng được củng cố, tăng cường, an ninh chính trị được giữ vững.

Nguồn: Huyện uỷ Đình Lập

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, song trên thực tế, Đình Lập vẫn là một trong những huyện còn nhiều khó khăn của tỉnh Lạng Sơn: kinh tế toàn huyện phát triển còn chậm, kết cấu hạ tầng mà đặc biệt là hệ thống giao thông còn yếu kém. Đến đầu năm 2004, các trục đường có ý nghĩa hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đi qua huyện như quốc lộ 4B từ Quảng Ninh xuyên qua Đình Lập về Lạng Sơn lên Cao Bằng, đường số 31 chạy từ Bắc Giang qua trung tâm huyện Đình Lập nối với cửa khẩu Bản Chắt và đường biên giới Trung Quốc và tỉnh lộ đi Nà Thuộc, xã Bắc Xa sang Trung Quốc vẫn chưa được rải nhựa.

Từ thực tế hoạt động sản xuất của ngành nông nghiệp, nông thôn, Đảng bộ huyện Đình Lập đã xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến năm 2005. Trước mắt, huyện tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng:

Về nông nghiệp: phát huy lợi thế từng vùng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển hàng hóa với quy mô hợp lý, tập trung chuyên canh gắn với thị trường và công nghệ chế biến. Tích cực ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, bảo quản, chế biến nhằm nâng cao năng suất, sản lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hóa nông - lâm sản. Tiếp tục đưa diện tích cây ngô lai xuống chân ruộng một vụ lên 400 ha, phấn đấu đến năm 2005 giữ vững sản lượng 8.500 tấn lương thực có hạt nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Đẩy mạnh trồng cây thực phẩm ở thị trấn Đình Lập, xã Đình Lập và thị trấn nông trường, chú trọng phát triển cây chè, đưa diện tích lên 600 ha vào năm 2005 bằng việc khôi phục và phát triển diện tích chè của Xí nghiệp Nông công nghiệp Chè Thái Bình và của nhân dân ở các xã: Lâm Ca, Thái Bình, thị trấn nông trường và các vùng lân cận. Phát triển và hình thành vùng cây ăn quả với quy mô diện tích 1.500 ha dọc quốc lộ 31 và 4B. Bên cạnh đó, huyện còn tổ chức tốt công tác quản lý bảo vệ rừng hiện có, đẩy mạnh trồng rừng bằng các nguồn vốn của các chương trình dự án và các thành phần kinh tế. Phấn đấu đến năm 2005, diện tích rừng thông đạt 18 nghìn ha tập trung ở các xã: Đình Lập, Bính Xá, Kiên Mộc, Cường Lợi, Lâm Ca, Thái Bình; đưa diện tích trồng hồi lên trên 1.000 ha tập trung ở các xã phía Bắc, nâng độ che phủ của rừng lên 40%.

Đặc biệt, huyện quan tâm phát triển các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến nông - lâm sản và sản xuất vật liệu xây dựng, sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ nhằm thu hút và phân công lao động ngay trên địa bàn khu dân cư, tạo điều kiện gắn lợi ích kinh tế giữa người sản xuất nguyên vật liệu và cơ sở sản xuất chế biến. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển nhanh nhiều loại hình dịch vụ, đáp ứng yêu cầu vật tư, kỹ thuật, tiền vốn, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, nâng cao đời sống vật chất của nhân dân.

Một góc thị trấn Đình Lập

Ảnh: Tư liệu

Về thương mại, sự hoạt động khá hiệu quả của cặp chợ Bản Chắt đã đưa thương mại trở thành thế mạnh của huyện. Trong những năm 1995 - 1999, nhờ có cơ chế xuất nhập khẩu qua đường tiểu ngạch, nên việc lưu thông hàng hóa (nông - lâm sản, hoa quả,...) rất nhộn nhịp và năng động, góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho huyện với trị giá 3 tỷ đồng (1997 - 1998). Quốc lộ 31 nối với nước láng giềng Trung Quốc cách trung tâm huyện 30 km tạo thuận lợi cho cặp chợ Bản Chắt trong việc trao đổi hàng hóa. Tuy nhiên, do tuyến đường đến cặp chợ vẫn chưa được rải nhựa nên đã hạn chế khả năng giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa nhân dân địa phương với Trung Quốc. Hiện nay, Sở Thương mại Lạng Sơn đã khảo sát và đề nghị tỉnh, Trung ương có chính sách đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng tại khu vực này, tạo điều kiện phát triển thương mại mạnh hơn nữa trong tương lai.

Đình Lập có hệ thống sông ngòi tương đối dày đặc, nơi thượng nguồn của 4 dòng sông chính: sông Lục Nam, sông Đồng Khuy, sông Kỳ Cùng và sông chảy qua huyện Tiên Yên (tỉnh Quảng Ninh). Hợp lưu cùng với các dòng sông chính ấy là hệ thống các suối khe dày đặc, kết hợp với những rừng cây bạt ngàn trùng điệp và những thảm cỏ thực vật xanh mướt, tạo cho Đình Lập hướng phát triển du lịch sinh thái gắn với sông Kỳ Cùng, làng Pò Háng, du lịch hồi ức về những kỷ niệm khu căn cứ Nà Thuộc.

Để kinh tế phát triển nhanh, bền vững, huyện Đình Lập rất mong các đơn vị trong và ngoài nước tập trung đầu tư vào huyện, tạo đầu ra cho các sản phẩm lâm - nông nghiệp. Bên cạnh đó, huyện cần chú trọng phát triển thị trường, tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, kiện toàn tổ chức bộ máy, thu hút nhân lực, hình thành tư duy mới về sản xuất hàng hóa cho bà con nông dân.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, kinh tế của huyện Đình Lập mới có cơ hội "cất cánh", tạo tiền đề vững chắc để huyện thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đưa Đình Lập vững tin vào chặng đường phát triển mới.

 

Cây chè - Niềm tự hào của người dân Đình Lập

Cây chè đã có mặt tại huyện Đình Lập gần 40 năm nay. Trong những năm gần đây, việc đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật cùng với chính sách phát triển cây chè của tỉnh đã xác định rõ nét hơn về việc "Phát triển cây chè ở các xã và lấy Xí nghiệp Nông - công nghiệp Chè Thái Bình làm trung tâm là đúng hướng và có cơ sở". Khu vực này có điều kiện đất đai và khí hậu phù hợp, nhân dân có kinh nghiệm nhiều năm trồng và chế biến chè, do vậy càng có điều kiện áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là đưa các giống chè mới như Ô Long, Bát Tiên, Ngọc Thúy vào trồng trên diện rộng. Cùng với các cơ chế, chính sách của Trung ương và của tỉnh, quyết tâm của huyện về phát triển cây chè, nếu bảo đảm các yêu cầu về giống, chất lượng và tiếp thị tốt thì khả năng tiêu thụ chè là rất lớn. Đến đầu năm 2004, tổng diện tích chè giống mới trên địa bàn toàn huyện là 245 ha.

Vùng chè Bát Tiên của Xí nghiệp nông công nghiệp chè Thái Bình

Ảnh: Tư liệu

Phát triển cây chè không chỉ tạo điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xóa đói giảm nghèo mà còn giúp nhân dân trong vùng làm giàu. Vì vậy, huyện Đình Lập, Xí nghiệp Nông - công nghiệp Chè Thái Bình, các xã và các hộ gia đình cần đẩy mạnh phát triển cây chè với tốc độ nhanh hơn nữa nhằm khai thác đúng tiềm năng của vùng, để người dân Đình Lập luôn tự hào với các ca khúc viết về cây chè như "Tình ca hương chè", "Cô gái nông trường Thái Bình",...

 

Một số mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2005

- Tốc độ tăng trưởng GDP: 10%.

- Cơ cấu kinh tế: nông - lâm nghiệp 51%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 14%; dịch vụ 35%.

- Thu nhập bình quân đầu người: 4 triệu đồng/người/năm.

- Sản phẩm nông nghiệp chiếm 60 - 65% GDP.

- Nâng độ che phủ rừng lên trên 35%.

- 100% các phòng học được kiên cố hóa.

- 60% xã, thị trấn có bác sĩ.

- Giảm tỷ lệ đói nghèo xuống dưới 15%.

- 70% hộ dân được dùng điện.